Thực hiện các hoạt động trong chương trình Tình nguyện mùa đông và Xuân tình nguyện, chiều ngày 16/12/2019, Hội LHTN xã Tuân Đạo tổ chức tặng quà cho các em học sinh và phát quần áo cho bà con nhân dân xóm Quàn và xóm Đanh. Trong dịp này đã tặng 50 đôi giày ủng, 20 xuất quà cho các em học sinh nghèo vượt khó. 

anh tn 1

     Trao quà cho các em học sinh nghèo vượt khó

anh tn 2

anh tn 3

Các đồng chí tình nguyện viên của Hội LHTN xã trao tặng lại quần áo, chăn màn,...cho các hộ gia đình khó khăn.

     Với sự ủng hộ và chung tay giúp đỡ của những tấm lòng hảo tâm trong và ngoài tỉnh, mong rằng bà con nhân dân và các em học sinh nơi đây sẽ có một mùa đông ấm áp hơn. 

Hội LHTN xã Tuân Đạo.

     Ngày 04/12/2019, tại Hội trường UBND xã Tuân Đạo, Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư thương mại INTRACO về phát bếp đun tiết kiệm nhiên liệu cho hội viên phụ nữ xã. Đại diện phía Công ty có ông Trương Mạnh Cường, Phó Giám đốc công ty và bà Lương Thị Nhung, Trưởng ban điều phối dự án. Phía Hội LHPN huyện có chị Bùi Thị Lệ, Phó Chủ tịch huyện Hội về dự và chỉ đạo công tác phát bếp cho hội viên.

       Thực hiện Quyết định số 3114/QĐ-UBND, ngày 28/12/2018 về việc phê duyệt Dự án "Phân phối bếp đun tiết kiệm nhiên liệu tại tỉnh Hòa Bình", Công ty INTRACO về xã Tuân Đạo đã cung cấp miễn phí 800 bếp đun cho hội viên phụ nữ của xã. 

ảnh phát bếp 1

 

Ông Bùi Thanh Bình, Phó Bí thư TT Đảng ủy thay mặt lãnh đạo xã phát biểu 

ảnh phát bếp 2

Bà Lương Thị Nhung, TRưởng ban điều phối Dự án Hướng dẫn cách sử dụng bếp đun tiết kiệm

ảnh phát bếp 3

Đại diện Hội viên phụ nữ của các chi hội nhận bếp đun.

         Đây thực sự là một chương trình ý nghĩa nhằm giúp đỡ chị em phụ nữ tiết kiệm nhiên liệu và bảo vệ môi trường. Việc được tài trợ bếp đun tiết kiệm nhiên liệu đợt này góp phần từng bước hoàn thiện tiêu chí môi trường trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của địa phương.

Bùi Hà

 

Người Mường gọi rượu cần là “rạo tóng”, rượu phải đóng nén vào hũ, chĩnh khi lấy ra uống phải đóng (cắm), gọi là tóng rạo để thành sản phẩm dùng. Rạo tóng có nguồn gốc từ rất xa xưa, được dùng trong cuộc vui mừng thắng trận. Do quá trình phát triển xã hội, rượu cần được sử dụng rộng rãi trong các sinh hoạt vui nhà mới, vui đám cưới, vui mừng tiếp khách và các lễ nghi tín ngưỡng.

M4.5-ruou-can-hoa-binh-2-www.OJO .vn
Về cách làm rượu cần, theo sử thi Đẻ đất đẻ nước được miêu tả như sau:

“Lên đồi lấy rễ mật củ

Lên rừng rú lấy da cây mun

Dây da men, lá xà can

Lấy cỏ dạ lộng

Xuống dốc lấy cỏ rậm rì, rậm rạch

Cỏ bách giạ hợn

Cây dớn đen chân, đen tay

Đem về giã ra làm bột”

Trộn với bột gạo đem ủ, men dậy thơm thì đem cho vào chĩnh bịt kín để ngấm ngấu mang ra đổ thêm nước vào, uống mừng thắng trận. Cách chữa say thì:

“Xuống rậm lấy nắm ốc, xuống rộc lấy nắm ốc Wel” ăn vào khỏi say.

Đó là những nguyên liệu cơ bản để làm rượu cần. Ngày nay, làm rượu cần cũng cần theo các quy trình sau: nấu gạo nếp chỉ xay không giã gọi là gạo lất, tốt nhất làm bằng nếp cứng, loại nếp rảnh rượu ngon, uống lâu nhạt hơn. Gạo nếp đồ nấu thành cơm xôi, dỡ rải ra nong cho khô, nguội, đồ chín vỏ trấu sau khi đã làm sạch, để nguội, trộn đều, hai “hông” (tức là cái ninh) trấu một hông xôi mà rắc men vào trộn lại đem ấn chặt vào vò, vào chĩnh hay chum. Càng nén chặt bao nhiêu càng uống được lâu bấy nhiêu. Lượng men, mười quả tầm nhỏ hơn trứng gà mái là một “thiếc” bằng mười cân gạo. Cứ thế, người làm rượu ước đoán đong đếm sao cho mỗi lứa rượu có loại để dùng vào việc đông người, loại tiếp khách khứa thường xuyên, và loại nhỏ để nếm rượu. Đồng thời làm men họ cũng định ra lứa men uống cho nam giới với nồng độ ngũ vị: cay, đắng, he, hắc, ngọt thì cho nhiều chất nóng. Đối với rượu cho nữ uống thì sao cho ngọt lịm nhưng bền vị, uống được lâu, nhiều người, cần chất làm thơm ngọt nhiều hơn. Nguyên liệu cũng có thể dùng bằng ngô, khoai, sắn, kê. Nhưng không thơm ngon bằng rượu nếp. Khi đã lèn chặt, phải để chừa chừng bốn xăng ti mét độ cao của miệng chĩnh thì lấy lá chèn đậy kín lại, giần tro bếp thật mịn nhào với nước cho quánh trát vào đầy trên miệng, đem cất vào ổ rượu trong góc nhà chờ khi sử dụng. Nhưng khi lắp miệng chĩnh họ kỵ không dùng lá chuối tiêu, bởi hay gây thành chất độc trong rượu. Nén rượu vào chĩnh gọi là bôốc rạo, được dùng ngoài hai mươi đêm, tốt nhất là một tháng thì gia chủ nếm rượu và dùng rượu từ bốn mươi ngày đêm trở lên trong công việc. Đặc biệt rượu ba clăng (tức là ba trăng) ngon hơn, được nước nhiều hơn.

Ngoài các hình thức sinh hoạt ta thường bắt gặp như uống rượu trong tiếp khách, mừng nhà mới, mừng đám cưới, ngày lễ ngày tết lồng với sinh hoạt rượu cần là sinh hoạt giao tiếp và thi ca sôi động, vừa mang tính chất trữ tình, vừa mang tính chất trào lộng, nhằm ca ngợi thành quả tốt đẹp, mối tình trong sáng. Rượu cần còn đáp ứng những sinh hoạt khác ít biết đến như “rạo mụ”, tức là loại rượu được làm bằng cách họ cho cơm rượu vào chiếc hũ nhỏ xíu, bịt kín làm quai gọi là đóng dắng, treo ngược lên ở một nơi trong nhà, được ba đêm thì rượu thơm thì cúng vía cho đứa trẻ mới lọt lòng gọi là vía Mụ.

Rượu cần trong các lễ hội đình chùa để cúng lễ cho các vị thần có công với dân, với nước, mang ý nghĩa uống nước, nhớ nguồn và sau đó là cuộc liên hoan đầy ước vọng của dân Mường với tâm linh hưởng lộc và mong phù hộ cho sự làm ăn bình an thịnh vượng.

Rượu cần cho hồn về Bên Ma để nhìn nhận ông tổ bà tổ và gặp ông lang đất “tống” xin  ruộng vườn, nhập khẩu, còn phải có chĩnh rượu cắm ngược một cần (khoe) để thết đãi chí ông Nghè là người gác cổng, công việc đi mới thành công. Rượu cần để làm tích về mối tình đẹp đôi, yêu thương da diết, không lấy được nhau giữa hai người: Nga-Hai Mối. Rượu cần không chỉ lễ hội ở đình chùa mới cũng lễ cho người có công mà tất cả các cuộc sinh hoạt uống rượu cần trước khi uống đều khấn mời ông bà tổ tiên, thành hoàng làng. Đối với các đình chùa lớn, ngoài tổ tiên, thành hoàng làng còn mời các vị thần tối cao như Quốc mẫu Hoàng Bà, thánh Tản, các vua cùng với các vị thần tôn ở đó.

Rượu uống không cúng lễ là khi tiếp khách thân quen, chĩnh rượu chỉ để ở cạnh góc bếp và rượu làm nếm thử nếu không nên thì làm lứa khác. Do đó, trước khi uống sẽ trải chiếu lấy chĩnh rượu đặt giữa nhà, đặt chiếc mâm có bát nước lã, đĩa trầu cau, cắm cầm, cắm chén, đổ nước, quay cần hướng hết về phía cửa Voóng nhờ ông Mo hay người biết cúng khấn để lễ. Bài đó là “páo mẹng tạo” (bảo miệng rượu), trong đó có đoạn:

“Tôi mời thành hoàng quan lang đất nước

Thổ công, vua bếp, cun Dòn

Mời các ông, các bà, cô, dì, chú bác

Các mả, các mộ, các nơi, các tống

Bên cậu, khá mộng (ngoại) bên dưới, bên trên

Kẻ khó năm, ba bốn làng

Con sang bà bề bốn bên

………………………..

Cắm chén pao chĩnh che re

Cắm khoe pao chĩnh chéng réng

Mẹng chúng tôi muốn nhá còn chưa dám nhá

Trong lòng, trong dạ muốn ăn còn chưa dám ăn

Để người nhà ăn trước mà bênh, uống trước phù hộ”.

Uống rượu cần, bộ phận làm đẹp cho văn hóa ẩm thực là cần rượu (khoe) mà lời khấn nói: “cắm chén pao chĩnh che re, cắm khoe pao chĩnh chéng réng”. Hai hình tượng cần và chĩnh cong cong, uốn khúc cắm trên miệng chĩnh đã đẹp lại còn được che re, chéng réng như một mỹ từ dũng miêu tả thì thật tuyệt vời. Người Mường uống rượu cần với một bộ cần là 12 que để biểu lộ sự vui mừng 12 tháng mà họ thường ví: “ Đêm vui rạng, tháng vui tốt, năm vui lành”./.

Theo: Tư liệu Hòa Bình

Người Mường có câu “Cơm đồ nhà gác, nước vác lợn thui, ngày lui tháng tiến”, nhà gác ở đây chính là nhà sàn và nhà sàn chính là nét kiến trúc đặc trưng của người Mường. Theo sử thi Đẻ đất đẻ nước khi con người chưa có chỗ ăn, ngăn ở còn ở trong rừng, lúc đó đá Cần cùng dân làng đi xúc cá, bắt được con Rùa, trói buộc định mang về thịt ăn. Thấy thế Rùa xin tha bằng cách hiến kế làm nhà theo thân hình mình.

nhasan

Nhà sàn

“Bốn chân tôi bốn cột cái

Hai vỉa sườn hai mái nhà

Xương sống làm đòn nóc bắc kèo cái

Mỗi xương sườn là một cái rui

Dải Sườn đùi là phên cái mè

Hai thẻ xương sườn là đôi kèo cái”

Sử thi Đẻ đất đẻ nước nói vậy, thực tế đá Cần và các đời sau làm nhà Rùa như thế nào. Đó là nhà rùa 4 cột như bốn chân Rùa, muốn làm mái tròn hóa ra vuông. Ở tầng sàn, bắc xà vào cột cái nhưng để đầu xà dài ra hơn cột để làm sàn cho dài. Chiều rộng cũng vậy, được bỏ xà dọc gác lên xà ngang để thò lên phía cửa voóng và thò xuống phía sau dài hơn cột cái. Tất cả xung quanh thò ra bên ngoài cột, riêng hai phía voóng và phía khậm, không có xà. Dĩ nhiên chỉ thò ra với độ cho phép. Làm như vậy vì đó coi là rìa của mai Rùa thò ra. Cùng với mái nhà chảy xuôi để che sương gió, nên mái gần sát với tầng sàn.

Bếp Mường

Ở tầng trên (mái gianh) bắc bốn xà, 2 dọc, 2 ngang vào đầu cột thành hình vuông hay hơi chữ nhật. Hai đôi kèo cái đặt lên hai đòn tay cái (xà đại), xà này làm dài hơn cột để bắc quá giang phụ ở ngoài đầu xà, làm chân đặt kèo trái, ở gần chân kèo để dài ra vừa đủ độ rồi đục lỗ tra cu cu (con xo) để thò ra gác lên xà. Kèo cái cũng vậy, chỉ khác là con xo to hơn, có đẽo khớc cho đẹp và chỗ chạm vào xà đại phải ngoạm được các cánh xà đại ở bên trên. Nếu không làm vậy thì đẩy 2 đôi kèo cái vào lòng nhà, chia xà đại ra  làm 3 gian, dùng quá giang ở hai đầu xà đại làm xà đặt chân kèo bên trái và bên phải. Lối nhà này, đến nay vẫn còn thấy khi muốn làm nhà mà thiếu cột cái, được gọi là nhà “đay quay”, chỉ khác với ngày nay là chân kèo ngắn. Kèo chính hay kèo hai trái để thò dài xuống để chạm vào tầng sàn, chưa có vách nhà. Kiến trúc nhà Rùa sử dụng nhiều đời đã có sự bổ sung cho thêm vững chãi bằng các cột hiên và xà, ruông ở phía trước, phía sau. Hai chái nhà thêm hàng cột chạy dọc, nối ruông (lạt) thêm một đoạn phía hè (bên trong), một đoạn ruông phía ruộng (bên ngoài), thêm xà hiên trên đầu cột chạy bốn xung quanh. Kèo cái đã có xà hiên đỡ chân. Kèo hai chái nhà được gác lên cối đệm buộc ở trên sát góc nhọn hay vuông của đôi kèo cái, chân chạm vào xà ở ngay đầu cột. Như vậy kèo gồm có 4 kèo cái, 4 kèo góc (còn gọi là bắp cày), 4 kèo 2 chái. Nếu chiều rộng (chùng khù) hẹp thì chỉ dùng mỗi chái một kèo ở chính giữa, sau đó được nâng, rút mái gianh (giọt gianh) cao lên cho có độ thoáng mát, làm thêm vách che, để cửa sổ những chỗ cần thiết. Đối với nhà nhiều gian chỉ cần thêm vì, kèo, cột và xà dưới (lạt, ruông), xà cái, xà hiên, muốn bao nhiêu gian cứ thêm bằng ấy vì nữa. Về chọn cây làm nhà

Thứ nhất cây trâm, cây trai

Thứ hai cây búm xó

Không có mới dùng lim.

Về kèo và xà thường có hình khối “một chông một tlang” là chiều dài và chiều rộng của bàn chân. Kèo và xà ghép với nhau theo chiều “xép áo” bên trái dập về bên phải theo chiều kim đồng hồ. Tính độ dốc của mái nhà bằng cách ghép kèo “vuông gói xôi” .

Về dựng nhà, người Mường dựng nhà ở nơi khoảng đất rộng, phẳng, thuận nước, thuận nơi làm ruộng, nương, gần làng xóm. Nhà Mường xưa kia hầu hết không san nền, vì làm cột chôn, chỗ trũng cột dài, chỗ đất cao cột ngắn, hoặc do đào sâu nông. Do đó muốn trên tầng phẳng, trên mái thăng bằng, trước khi đào lỗ chôn cột phải “Rè”. Rè là hình thức làm nhà giả riêng tầng sàn, cột giả gồm 8 hoặc 12 cột để bắc que ngang, dọc hoặc căng dây, lấy nước đổ lòng máng cây nứa đo lấy độ cần bằng. Trên cơ sở đó cho phía cửa voóng cao hơn một chút để khi nằm nghỉ khỏi bị dốc ngược “dốc lòm” và gốc bương tre để phía dưới (khậm) cũng to hơn ngọn ở phía voóng.

Cứ thế, lần lượt theo kiến trúc ngôi nhà để bắc xà đại, quá giang, xà hiên, dựng kèo cái, kèo hai chái, đặt đòn tay (lăng) theo từng mấu (đốt) ở kèo, đặt đòn nóc và buộc nín vào kèo qua lỗ đục. Buộc kèo giả ở giữa hai gian cái hoặc làm chống gió. Kéo cây chân rui làm bằng bương tre dài suốt mái, khoét từng từng lỗ cách nhau 15-20cm để đặt chân rui. Riêng có 6 lỗ rui đực khoét thủng để thò chân rui khỏi cây chừng 20-25cm, có lỗ cài con xỏ sát với cây chân rui để kéo, đỡ cho khỏi tuột. Ngoài đầu chân rui có lỗ đóng que làm thành móc đỡ một cây bương tre nhỏ, gọi là máng bái. Sáu rui đực chia thành ba đôi, một đôi chính giữa mái nhà, còn 2 đôi nữa chia đều ra 2 bên. Ở các rui này phải được buộc kỹ (néo) bằng dây khọ chứ không buộc lạt. Cây cũng phải néo từng đoạn buộc lên với đòn tay (lăng) sau đó thì đặt vào buộc rui cho đều, thẳng. Khi buộc thì so le đi, rui này buộc ở đòn tay dưới, rui sau buộc ở đòn tay trên, cứ theo chiều đòn tay, rui buộc, rui không buộc. Đối với đòn tay dưới cùng và trên cùng buộc khẳn (buộc hết các rui). Trên cùng của đầu rui hai mái cái đặt và néo chặt lại để sau đắp nóc sẽ xỏ que xuyên qua bên dưới kẹp giữ phanh nóc, gọi là xỏ quàil. Ở dưới chân rui (mang bái) đặt mè rè, loại phên đan mắt cáo rộng chừng 40 cm, dài suốt theo bốn xung quanh nhà để đỡ phên gianh.

Về sàn nhà, dùng bằng cây nứa to, cây bương lấy dao bổ đều vào xung quanh các đốt rồi rạch một đường suốt để tẽ ra. Gọi là:

“Sàn nhà bương già

Bương da cây nứa”

 Về lợp nhà thường đặt từ hai đến ba phên gianh chồng đôi ở dưới chân rui. Giữa đầu phên gianh này gối đầu phên gianh khác, bên trái đè bên phải, gọi là “xép áo”. Ở bốn góc mái nhà buộc mỗi góc một đôi phên gianh quấn vòng quanh góc để hom gianh xuống, buộc túm đuôi gianh lên rui nhà, gọi là “ca cúp”, để khỏi bị mỏng gianh. Đối với làm nhà mới hay lợp gianh mới, người Mường có tục làm phe giúp nhau. Tục làm phe do tổ chức của làng đảm nhiệm trùm làng và vé phe điều khiển. Hằng năm, nhà ai cần làm nhà hay lợp lại thì mời và phe đến nhà ăn cơm mà đi phổ biến theo lệ làng đã bàn sẵn. Nếu chỉ xin riêng gianh thì thường quy định thành 3 mức, loại 30 phên, loại 50 phên và loại 100 phên mỗi hộ. Mỗi loại quy định bao nhiêu cân thịt, bao nhiêu chai rượu.

Khi làm xong nhà mới còn có một thủ tục quan trọng là đắp bếp. Chủ nhà sẽ cúng vua bếp để mong phù hộ khỏi hỏa hoạn, sau đó con cháu là người lót bếp, lấy đất và đổ đất để đắp bếp, người già lửa nướng cá đốt cho lửa cháy mãi trong đêm không tắt tượng trưng cho cuộc sống ấm áp, có cơm cá nấu nướng thường xuyên. Cụ già chẹng nục dựng ba hòn đá, tượng trựng cho sự bền vững như hòn nục.

Như vậy nhà sàn của đồng bào Mường là một biểu hiện sinh động, đặc sắc của văn hoá vật thể từng gắn bó máu thịt với sinh hoạt hàng ngày của đồng bào qua nhiều thế hệ. Trong cấu trúc truyền thống, nhà sàn Mường là một kiến trúc đa năng, ngôi nhà thoả mãn nhiều nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của mỗi gia đình. Kiểu dáng nhà sàn Mường cũng là một nét riêng làm phong phú thêm văn hoá nhà sàn của các dân tộc Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Tục cưới xin truyền thống của người Mường là một trong những nét đẹp văn hóa có ảnh hưởng rất lớn và sâu sắc đến sự hình thành, phát triển gia đình, dòng họ, trong đó chứa đựng nhiều phong tục tập quán, luật tục độc đáo. Một đám cưới cổ truyền ở người Mường được tiến hành tuần tự theo các bước: Chọn người làm mối (chọn mờ), Dạm ngõ (mờ miệng), Đặt vấn đề (Kháo tiếng), Lễ ăn hỏi (ti nòm), Đám cưới (ti cháu) và Lễ lại mặt. Cụ thể: Chọn người làm mối (chọn mờ). Sau khi đôi trai gái được gia đình và họ hàng nhất trí cho tổ chứ đám cưới thì nhà trai sẽ chọn và nhờ người làm mối (mờ). Người được chọn làm mối không phân biệt nam hay nữ, nhưng phải đứng tuổi, có uy tín, được nhiều người kính nể, gia đình luôn hạnh phúc, đông con nhiều cháu, nói chuyện khéo léo, có tài ứng đáp. Người Mường quan niệm rằng trai gái có nên vợ nên chồng và sau này có con đàn cháu đống hay không là nhờ sự giúp đỡ của người làm mối. Vì thế mà thành ngữ Mường có câu: “ Cơm ngon vì biếng, tiếng tốt vì mờ” (biêng tiếng Mường nghĩa là cái ninh đồng để đồ xôi). Nhiệm vụ của người làm mối bắt đầu từ khi dạm ngõ, hỏi thăm đến lúc cưới, đón dâu về trao cho nhà trai.

2019 3 6 14 55 46 636874809460094516 tuc cuoi xin ng Muong

Đoàn đón dâu

Dạm ngõ, thăm hỏi (mở miệng): Gia đình nhà trai nhờ ông mờ mang trầu, cau, hai chai rượu, quà bánh đến nhà cô gái để chính thức ngỏ lời cho đôi bạn trẻ được thành hôn. Hôm đó hai bên cùng nhau bàn bạc trao đổi và thoả thuận ngày “kháo tiếng”.

Đặt vấn đề (kháo tiếng): Đến ngày chọn, nhà trai chuẩn bị 02 gói chè, khoảng 10 quả cau, hơn 20 lá trầu, tất cảc được gói kỹ và trao cho ông mờ đến nhà cô giờ khoảng chạng vang tối. Ba ngày sau mà nhà gái không đem trả lại lễ vật thì tức là đồng ý. Sở dĩ là phải đợi 03 ngày là vì, theo tập quán, bố của cô gái phải nằm nghe trong ba ngày đem liền nếu này không tiếng hươu, giác, vượn kêu, gà gáy dở, cây đổ, đá lăn thì mới coi là được, nghĩa là không có điểm gở, điểm xấu. Sau đó tự tay ông mở gói lễ vật và báo cho họ hàng rằng nhà đã có chuyện vui. Kể từ đấy hai nhà mặc nhiên là thông gia, các con được phép thường xuyên thăm hỏi nhau.

Ăn hỏi (Ti nòm): Theo từng điều kiện của mỗi gia đình mà lễ ăn hỏi có thể tiến hành sớm hay muộn. Muốn tiến hành lễ ăn hỏi (Ti nòm), nhà trai phải sắm một lễ nhỏ sang nhà cô gái để xin ngày, lễ vật có một con cá cắt 04 khúc được gói trong lá dong, bốn chiếc bánh trưng không nhân, năm quả cau, mười lá trầu (bánh trưng ngụ ý là cô gái còn trinh trắng, nếu có nhân thì nhà gái hiểu rằng con gái nhà mình đã có chửa). Sau bữa cơm thân mật, gia đình quyết định ngày ăn hỏi. Theo tập quán, ngày ăn hỏi, cưới xin thường chọn tháng 11, 12 (âm lịch) là thời điểm của mùa màng đã thu hoạch, cau cũng chắc hạt. Người Mường kiêng dựng vợ gả chồng vào tháng 7 (âm lịch) vì đó là tháng ngâu, và người ta kiêng chọn ngày cuối tháng vì người ta coi đó là “ngày cùng tháng kiệt”. Họ chọn ngày đầu tháng vì “tháng rộng ngày dài”. Sau khi đã chọn được ngày, ông mờ về báo cho nhà trai biết ngày làm lễ ăn hỏi để sắm lễ vật. Lễ ăn hỏi được tiến hành làm hai lần, lần đầu là “nòm gà”, lần sau gọi là “nòm cá” hay “nòm lợn”. Lễ nòm gà, như đã hẹn trước, nhà trai sắm sửa lễ vật gồm: 02 con gà sống, 02 con cá, 16 chiếc bánh làm bằng gạo nếp, 04 chai rượu, 04 gói cơm nếp, ba mươi lá trầu, một buồng cau. Tất cả được xếp vào thúng để hai người khiêng. Đoàn nhà trai mang lễ vật ăn hỏi lần này gồm có ông mờ, hai nam thanh niên và em gái của chàng rể. Trước lúc xuất hành nhà trai làm mâm cơm cúng tổ tiên để trình báo và phù hộ, lúc bắt đầu khởi hành, người ta kiêng gặp con gái, hoặc người “vía độc”,. Trong suốt chặng đường đi, những người trong đoàn đi không được ngoái đầu trở lại và đi một mạch đến nhà gái. Sau khi đem lễ vật đến, ông mờ trao cho đại diện nhà gái. Cỗ bàn được bày ra, mọi người ăn uống vui vẻ. Trong bữa ăn, ông Mờ và nhà gái cùng bàn bạc, hẹn ngày ăn hỏi lần hai, hay còn gọi là lễ nòm cả. Lễ nòm cả, nhà trai phải có một con lợn khoảng 30 kg đã mổ thịt, 04 con gà sống thiến, vài gánh xôi, hai chum rượu nhỏ, trầu cau. Đoàn nhà trai gồm ông Mờ dẫn đầu, chàng rể và ba bốn người bạn của chú rể và tám người khiêng lễ vật. Trước khi đi, bố mẹ của chàng rể giao cho ông Mờ một túi vải đựng hai vòng tay bằng bạc, 08 vuông vải tự dệt, 01 mặt phà làm chăn. Cũng như lần ăn hỏi trước lần này trước khi đi họ làm một mâm cơm cúng để trình tổ tiên. Khi đến cổng nhà gái đã cử người đón cổng khiêng lễ vật và mời nhà trai lên nhà uống nước, ăn cơm. Ông Mờ thay mặt nhà trai trao túi vải cho bố, mẹ cô gái và coi đó là vật làm tin. Chiếc túi vải được mở ra trước sự chứng kiến đông đủ của họ hàng nhà gái và sau đó được đặt lên bàn thờ tổ tiên (sau lễ ăn hỏi, lễ vật này được cất vào trong hòm, đợi khi nào con gái sinh con đầu lòng sẽ tặng lại). Sau lễ ăn hỏi, phải ba năm sau lễ cưới chính thức được tổ chức. Trong thời gian chờ đợi nhà trai chuẩn bị điều kiện vật chất cho lễ cưới. Đây là khoảng thời gian thử thách gian khổ đối với chàng trai, người Mường gọi là ăn công con, tức là con phải có quà mang biếu bố, mẹ vợ tương lai trong các dịp lễ tết với mục đích trả công ơn nuôi dưỡng cô gái trưởng thành. Vào dịp tết nguyên đán quà biếu là một con lợn khoảng 20 cân đã luộc chín, úp vào thúng xôi đồ, khoảng 20 chiếc bánh rợm, 10 chiếc bánh mật, vài chai rượu nếp, trầu cau. Vào dịp tết đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5, âm lịch) phải có gói cá sống, 02 con gà. Rằm tháng 7 cúng phải có 02 con gà, 01 chai rượu. Còn nhà gái, để đáp lại thường cho con gái bố mẹ chồng tương lai những sản phẩm tự dệt như: gối, đệm…Trong dịp tết, cô gái có thể đến ăn Tết ở nhà chồng tương lai khoảng 3,4 hôm, nhưng không được đòi “ngủ chung” với chàng trai. Trong thời gian này chàng rể và nàng dâu tương lai thương xuyên đi lại thăm hỏi và giúp đỡ gia đình hai bên phát nương rẫy, cày ruộng, cấy hái… nhất là lúc mùa màng bận rộn. Tháng mười không đi mất chồng, tháng sáu không đi mất vợ là muốn căn dặn chàng trai và cô gái chớ lơ là công việc gia đình. Lễ cưới (Ti cháu): Sau lễ ăn hỏi 3 năm, gia đình nhà trai chọn ngày tốt, nhờ ông Mờ đến nhà gái mang lễ xin cưới. Lễ này gồm có 2 con gà (một trống một mái) hai gói cá, bốn chai rượu, bốn gói cơm nếp, một gói trầu cau, hai vòng bạc. Cùng đi với ông Mờ còn có anh, chị, em chàng rể. Gia đình nhà gái được báo cáo trước nên đã chuẩn bị đầy đủ cho lễ hẹn ngày, mời họ hàng, mời các bậc cao niên trong họ đến để đón tiếp nhà trai và bàn bạc thống nhất ngày cưới. Trong lễ này, nhà gái sẽ thách cưới. Lúc này vai trò của ông Mờ rất quan trọng và ý kiến của ông Mờ có quyết định trong lễ cưới, vì vậy thái độ của ông Mờ phải rất nhã nhặn sao cho bên nhà gái vui vẻ thoải mái, bên nhà trai không cảm thấy nặng nề. Trước đây, một đám cưới bình thường nhà gái thường thách cưới một con trâu đã vực cày (hoặc 1 con bò) vài thúng gạo nếp, gạo tẻ, 2 con lợn (mỗi con khoảng 30 - 40 kg), khoảng 8 thúng xôi nếp (mỗi thúng có 12 gói), 6 gói trầu cau, khoảng 24 ống rượu (tương đương khoảng 5 lít). Tuỳ thuộc vào từng gia đình và tài ăn nói của ông Mờ mà lễ vật có thể được giảm đi ít nhiều; Riêng trâu, bò thì dứt khoát phải có. Trong trường hợp con gái nhà Lang thì nhà trai phải có 9 con trâu, 1 con bò, một số nồi đồng, xanh đồng. Ngoài ra còn phải có đủ lợn gà, rượu, gạo, vòng bạc. Sau khi hai bên đã thống nhất ngày cưới, ông Mờ trở về báo tin cho nhà trai chuẩn bị lễ vật. Cùng ngày hôm đó, bên nhà gái mời 4 phụ nữ nhanh nhẹn, tháo vát, gia đình luôn êm ấm tới làm lễ khâu màn cho cô dâu.
Trước ngày cưới chính thức 2 đến 3 hôm, các cụ ông, cụ bà trong họ được đón về têm trầu bổ cau. Đêm đến, những chàng tai, cô gái thay nhau xay thóc, giã gạo, khung cảnh thật náo động, nhộn nhịp. Sau những ngày chuẩn bị khẩn trương, họ hàng hai bên tiến hành tổ chức lễ cưới. Thường đám cưới diễn ra trong 3 ngày, lễ dẫn diễn ra trước hôm tổ chức đám cưới một ngày, nhà trai làm mâm cơm trình báo tổ tiên, cầu mong mọi việc diễn ra tốt đẹp. Khoảng 8- 9 giờ sáng, đoàn người dẫn của bắt đầu khởi hành, số người đi phải chẵn, không được lẻ. Đoàn người gồm có ông Mờ, ông chú, bà bác, em gái của chàng rể và một số người khiêng lễ vật, dắt trâu bò đến nhà gái. Tại nhà trai, các cô gái chàng trai bạn bè của chú rể mặc quần áo đẹp đẽ chuẩn bị đi đón dâu. Số lượng người đi đón không hạn chế, tuỳ theo đường gần hay xa, số lễ vật nhiều hay ít. Đi đón dâu người ta chọn giờ sao cho khi đoàn cô dâu đưa cô dâu đến nhà chồng vừa lúc chạng vạng tối. Người Mường có câu; “tí cháu puống tlru, ti du vàng mặt”, nghĩa là lúc nhà trai đi đón dâu vào lúc thả trâu ra đông (8-9h sáng), còn cô dâu về nhà chồng lúc mặt trời lặn (5-6h chiều). Thành phần đi đón dâu, ngoài bạn bè của chàng rể, còn có ông Mờ, một cụ ông, một cụ bà có uy tín trong họ, 1 hoặc 2 em bé gái và đại diện có vai vế trong làng, đồng thời đội cồng chiêng cũng đi cùng để tấu nhạc. Lễ vật đem theo là một gói trầu cau. Trang phục của chú rể và phù rể như nhau, áo trắng mặc bên trong, áo dài đen mặc bên ngoài, kiểu cách như vậy được người Mường gọi là “đóng đôi”, quần lụa tơ tằm hoặc bằng vải nhiễu, buộc dải nút, đầu đội nón lá dứa. Tới cổng nhà gái, ông Mờ mang một chai rượu, cơi trầu đến xin nhà gái mở lối cho đoàn đi đón dâu được vào nhà, người ta tổ chức hát đối nam nữ cho tới khi nhà gái vui lòng nhường lối. Từ hai bên đường bạn bè của cô dâu ném tới tấp những nắm rượu cần vào đoàn người đón dâu. Nếu nhà trai có nhiều người bẩn quần áo thì nhà gái càng vui vẻ, người Mường cho rằng làm như thế sau này vợ chồng chung sống sẽ hạnh phúc. Khi đoàn đón dâu đã lên hết trên nhà sàn, đại diện nhà gái đến hướng dẫn chỗ ngồi cho đoàn nhà trai, còn chú rể tiến lên trước bàn thờ vái lạy tổ tiên và lạy sống ông, bà, bố, mẹ vợ và những người thân thiết trong họ thuộc vai trên của cô dâu. Người được lạy thường có tặng phẩm cho đôi bạn trẻ và chúc cho hai vợ chồng sống trăm năm hạnh phúc. Tiếp sau đó là cỗ bàn được bày ra, mọi người ăn uống vui vẻ. Trước lúc nhà trai xin đón dâu về, nhà gái mang rượu cần ra mời họ cùng uống, chúc phúc cho cô dâu chú rể. Đến gìơ đã chọn, ông Mờ xin phép nhà gái cho cô dâu được về nhà chồng, bấy giờ cuộc vui mới tạm ngừng. Ngày cưới là ngày cô dâu mặc bộ váy đẹp nhất của mình, trùm lên trên đầu chiếc khăn vuông (khổ 30 x 30 cm) màu trắng, buộc thắt nút sau gáy, mặc áo cánh ngắn sẻ giữa ngực, bên trong mặc yếm. Váy của cô dâu màu đen dài chấm gót chân, thắt lưng và chiếc khăn lục màu xanh lá cây, để lộ cặp váy lúng liếng hoa văn. Theo tục lệ, ra khỏi nhà, tay phải cô dâu cầm một con dao có chuôi bằng sừng nai, lưỡi dao có cắm củ gừng với mục đích trừ tà ma, vì sợ sau này vợ chồng sống bất hoà, đứt gánh giữa đường phải quay lại nhà bố mẹ đẻ. Dẫn đầu đoàn đón và đưa dâu là ông Mờ, các ông bà của hai họ, rồi đến cô dâu phù dâu, đi sau cùng là chú rể, phù rể và bạn bè, anh em của chàng rể. Cô dâu đeo bao đựng đồ riêng của mình, những người khác bên nhà gái đưa dâu khiêng đồ vật của cô dâu biếu gia đình nhà chồng, thường thì khoảng 02 chiếc chăn, 20 chiếc gối, 12 tấm vải, ngoài ra còn có chiếc màn của cô dâu được khâu từ trước. Đến chân cầu thang, em gái của chàng rể múc nước cho chị dâu rửa chân. Mọi người cũng được lần lượt rửa chân rồi lên nhà. Riêng cô dâu và phù dâu khi lên cầu thang không được bước vào bậc thứ nhất mà phải bước lên bó củi do nhà trai đặt sẵn rồi mới đi lên các bậc thang tiếp theo. Người Mường cho rằng làm như thế thì co dâu sau này sẽ chăm chỉ làm lụng hơn. Bước vào trong nhà, cô dâu mới đi thẳng đến bên bếp lửa, quỳ xuống lạy Vua bếp với mong muốn đến sau này đến ngày sinh nở, Vua bếp sẽ phù hộ cho hai mẹ con. Sau đó, cô dâu đến bàn thờ lạy tổ tiên và những người vai trên của chàng rể, mỗi lần lạy xong cô dâu cũng nhận được tiền mừng. Sau khi khấn cúng tổ tiên, người ta tổ chức “Lễ tơ hồng”, hay còn được gọi là lễ “cơm quen”. Họ trải chiếu ở giữa nhà, mâm lễ gồm một quả trứng luộc cắt làm tư để trên một đĩa xôi, 1 nậm rượu bằng quả bầu khô, một bầu khác đựng nước lã, ông Mờ cầm hai tay hai đôi đũa dơ lên qua đầu ba lần rồi đặt đũa xuống mâm. Lát sau, ông quay lưng lại nhấc đũa lên đưa chéo tay cho cô dâu chú rể, rồi đưa hai nắm xôi, hai miếng trứng cho hai người. Tiếp theo ông cầm bầu nước rót vào hai bát cho hai người dâu rể uống và khấn “Ông tơ bà nguyệt” se dây, se cho hai vợ chồng có con trai con gái, con gái thì cầm nong, cầm nia biết sảy lúa, con trai biết cày bừa, làm ăn phát tài, phát lộc cho bố, cho mẹ, cho hai họ cùng mừng. Sau lễ tơ hồng, cỗ bàn lại được bày ra, nếu cô dâu chú rể là người cùng làng thì sau bữa cỗ họ nhà gái ra về, còn nếu ở làng ở xa họ nhà gái sẽ ngủ lại. Tối hôm đó nam nữ thường hát giao duyên, đánh cồng trọn đêm. Theo lệ Mường, khi nhà gái ra về, người ta để phù dâu ở lại “ngủ bạn” với cô dâu 3 đêm. Những ngày sau này đôi vợ chồng trẻ chưa đựơc phép “chung chăn gối”. Sau 3 ngày cuối, hai vợ chồng trẻ cùng phù dâu quạy lại nhà gái 1 ngày, gọi là “ti mộng” (lại mặt), đến đây phù dâu hoàn thành nhiệm vụ. Cùng ngày hôm đó quần áo và tư trang cô dâu được chuyển về nhà chồng. Đêm hôm đó hai vợ chồng trẻ mới chính thức động phòng (đêm tân hôn). Về phần ông Mờ, sau bữa cơm chia tay vào buổi sáng ngày hôm sau, lễ đón dâu, ông Mờ đứng trước hai bên gia đình tuyên bố rằng nhiệm vụ kết duyên cho đôi trẻ đã xong. Sau đó đại diện nhà trai đem biếu ông 1 chân giò lợn đã được luộc chín. Nhìn chung về hình thức các thủ tục lễ nghi của việc cưới xin ở các gia đình người Mường giàu có hoặc nghèo đều tương tự nhau. Sự khác biệt lớn giữa đám cưới nhà giàu và nhà nghèo chính là ở số lượng và chất lượng của đồ lễ thách cưới và cỗ cưới. Đối với nhà giàu đám cưới là dịp thể hiến sự danh giá và phú quý của gia đình mình. Với người nghèo thì đám cưới có tình chất thông báo cho họ hàng và cộng đồng làng xóm. Trong nhiều gia đình, đám cưới con trai được chú ý hơn là con gái, con trai trưởng càng quan trọng hơn, nhất là gia đình nhà giàu, nhà trưởng họ. Tục cưới xin cổ truyền của người Mường - Hoà Bình ngày nay đã có nhiều thay đổi, một số tập tục, nghi lễ đã được loại bỏ.

Trong tục cưới hỏi của dân tộc Mường ở Hoà Bình hiện nay đã có những biến đổi tích cực như sau: Trước đây, việc quyết định hôn nhân là do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” thì ngày nay những đôi trai gái hoàn toàn có quyền chủ động, tự do yêu đương, tự do tìm hiểu. Ngày xưa hôn nhân thường bó hẹp trong làng xã, trong cùng tộc người thì ngày nay đã mở rộng hơn nhiều, đó là hôn nhân với người khác tộc, hôn nhân giữa Mường và Việt, giữa Mường và Thái. Trong hôn nhân, các hủ tục như đa thê, tảo hôn, thách cưới cao đã hầu như không còn. Lễ cưới người Mường ngày nay đã thực hiện theo nếp sống mới, việc thách cưới bằng bạc trắng, dắt trâu sang nhà gái, các tục cổ như ném bã rượu, ném trấu vào đoàn nhà trai đến nhà gái đón dâu, căng dây, đóng cổng đòi tiền nay đã không còn diễn ra nữa. Nhìn chung, các bước tiến hành ngày nay đã đơn giản đi nhiều, thời gian từ khi đặt vấn đề đến khi tổ chức đám cưới thường chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, không phải đợi chờ, thử thách ba năm như trước đây. Các bước tiến hành trong lễ tục cưới xin theo xu thế chung đã được đơn giản hoá đi nhiều, thủ tục ngắn gọn, thời gian từ khi đặt vấn đề đến khi tổ chức đám cưới thường chỉ diễn ra trong vòng một năm, với bốn lễ chính là: dạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu, lại mặt. Về lễ vật: tiền mặt đang dần thay thế cho các lễ vật, thách cưới của nhà gái thường từ 2 triệu đến 3 triệu đồng. Số tiền đó sẽ được nhà gái chủ động lo tổ chức đám cưới.

Với những nét đặc sắc trong tập tục, tập quán của dân tộc người Mường ở Hoà Bình nói riêng và cộng đồng dân tộc Việt nam nói chung, là một kho tàng giá trị nhân văn tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam, ngày nay dưới sự chỉ đạo của Đảng Nhà Nước ta trong bối cảnh trước tốc độ phát triển mọi mặt trên thế giới và trong nước, xác định mục tiêu, nhiệm vụ “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc” là một quan niệm đúng đắn và cấp thiết. Chúng ta cần tiếp tục có ý thức trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội, ổn định về chính trị, quốc phòng, an ninh, xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp vững bước tiến bước lên Chủ nghĩa xã hội.

Theo: Tinhuyhoabinh.com.vn

 

Du-lich-hb 123

Văn bản mới

Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Khánh làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường (07:56 11/09/2019)


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Khánh làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường (07:56 11/09/2019)


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Khánh làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường (07:56 11/09/2019)


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Khánh làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường (07:56 11/09/2019)


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Khánh làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường (07:56 11/09/2019)


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Khánh làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường (07:56 11/09/2019)


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Khánh làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường (07:56 11/09/2019)


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Khánh làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường (07:56 11/09/2019)


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014



Thi hanh hien phap 2013 copy

baner-ma-tuy 
 PHONGCHONGBAOLUC
Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction